Home / Văn hóa Phật Giáo / Về vùng đất phát tích họ Khúc

Về vùng đất phát tích họ Khúc

Làng Cúc Bồ, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương được biết đến như là nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ để giành quyền tự chủ cho dân tộc từ tay của phong kiến phương Bắc. Hiện còn một ngôi đền và những di vật nói lên điều này…

Từ thành phố Hải Dương, xuôi về hướng Nam hơn  20km là đến  đền  Khúc Thừa Dụ. Đền quay  hướng  Nam, mặt  nhìn  ra sông  Luộc (một nhánh  sông Thái Bình), vốn nằm trên đất Hồng Châu xưa, nay là huyện Ninh Giang.

Bốn chữ đại tự “Hồng Châu do tại” còn lại bên  trong đền đã minh chứng cho điều này. Theo tác giả Trọng Huân trong  cuốn sách “Quê hương Ninh Giang” (NXB Thanh Niên, năm 1996) thì tên Hồng Châu (có chỗ gọi là Hồng Lộ) xuất hiện vào thời Lý – Trần. Hồng Châu xưa bao gồm một phần  đất của tỉnh Hưng Yên, một phần đất của Hải Dương và một phần của Hải Phòng bây giờ. Vùng đất này được cho là nơi Khúc Thừa Dụ giương cao ngọn cờ khởi nghĩa đòi quyền tự chủ.

ve-vung-dat họ Khuc

Tượng Khúc Thừa Dụ với bức đại tự
“Khai quốc thừa gia”

Theo sử sách, bối cảnh xảy ra khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ như sau: Cuối thế kỷ IX, nhà Đường rơi vào thời kỳ đại loạn mà sử cũ gọi là Ngũ đại Thập quốc (năm đời mười nước). Vì tình hình rối ren đó, chính sách cai trị An Nam của thiên triều trở nên lỏng lẻo. Thượng thư Độc Cô Tổn là người nổi tiếng độc ác, được nhà Đường cử sang An Nam thắt chặt việc cai trị. Nhưng ngay sau đó, cuộc tranh  giành  phe  phái trong  hàng  ngũ  thống  trị khiến Độc Cô Tổn phải bỏ trốn ra đảo Hải Nam. Đứng trước hoàn cảnh lịch sử ấy, vào năm 905, vị hào trưởng đất Chu Diên là Khúc Thừa Dụ được dân chúng ủng hộ, đã tiến quân ra chiếm đóng thành Đại La (Hà Nội ngày nay), tự xưng là Tiết độ sứ. Về sự việc này, sách Việt sử thông giám cương mục đã ghi: “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu. Khúc Thừa Dụ tính tình khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ…”.

Sau khi chiếm thành Đại La, Khúc Thừa Dụ đã cho xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng của chính quyền đô hộ nhà Đường, nhưng về bản chất là một chính quyền do người Việt quản lý. Ông khéo léo buộc triều đình nhà Đường phải công nhận chính quyền này. Ngày 7 tháng 2 năm 906, vua Đường phong  cho Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ tước “Đồng bình chương sự”. Sau đó, Khúc Thừa Dụ phong cho con là Khúc Hạo chức vụ “Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu”, tức là tổng chỉ huy quân đội và sẽ kế vị quyền Tiết độ sứ. Ngày 23 tháng 7 năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo lên thay. Bốn năm sau, Khúc Hạo mất, Khúc Thừa Mỹ lên làm Tiết độ sứ, tiếp tục sự nghiệp của ông cha. Năm 923, vua Nam Hán, lúc bấy giờ là Lưu Cung, lấy cớ Khúc Thừa Mỹ nhậm chức Tiết độ sứ của nhà Lương, đã sai Lý Khắc Chính sang bắt Khúc Thừa Mỹ đưa về Nam Hán. Chính quyền họ Khúc tan rã từ đây.

Như vậy, tính đến năm 923, họ Khúc ở Cúc Bồ có đến ba đời làm chúa: Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ. Họ Khúc đã xóa thuế ruộng cho dân, bỏ cống nạp thiên triều, xây dựng  sự nghiệp  bang  giao hòa hảo… Dù Khúc Thừa Dụ không xưng vương xưng đế, nhưng đời sau vẫn gọi ông là Khúc Tiên chủ. Khúc Hạo được tôn là Trung chủ còn Khúc Thừa Mỹ cháu nội Khúc Thừa Dụ được gọi là Hậu chủ.

Tư liệu lịch sử về họ Khúc ở đất Hồng Châu nay còn lại không nhiều. Các nhà khảo cổ đã khai quật ở ngay dưới nền cũ của đền một số di vật về cuộc khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ; trong đó có 42 cây gỗ lim được dùng làm cột đình được cho là có niên đại cách ngày nay khoảng gần 2.000 năm (gần 1.000 năm tuổi cây và hơn 1.000 năm bị chôn vùi, tính từ khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ). Trước kia, khi chưa có đền, Khúc Thừa Dụ được dân làng tôn làm thành hoàng và có bài vị được thờ trong đình. Đình Cúc Bồ nằm ở phía Nam làng Cúc Bồ, cách bờ đê khoảng 500m trên một khu đất cao so với nền đất thổ cư gần 2m; mảnh đất có hình chữ nhật, dài khoảng 600m, rộng 300m. Hiện nay, chưa xác định rõ ngôi đình Cúc Bồ có tự bao giờ. Chỉ biết

Cúc Bồ còn có tên nôm gọi là Gọc. Có hai làng Gọc gần nhau. Làng nằm cạnh sông Luộc được gọi là “Gọc bến” thì có tên chữ là Cúc Bồ). Làng có chợ Gọc còn gọi là làng Cúc Thị. Ở xã Kiến Quốc hiện nay, có năm làng thì ba làng mang  tên Cúc (Cúc Bồ, Cúc Thị, An Cúc). Những danh xưng như Hồng Châu, Cúc Bồ vẫn được lưu giữ nhưng chưa đủ để vén lên bức màn bí ẩn về họ Khúc ở Cúc Bồ. Điều kỳ lạ hơn là ngay trong làng Cúc Bồ hiện nay cũng không có họ Khúc là hậu duệ. Cả bốn huyện xung quanh của tỉnh Hải Dương vốn thuộc đất Hồng Châu xưa cũng không có họ Khúc, trong khi cả nước có đến 40 chi họ Khúc khác nhau thường xuyên tìm về đền Khúc Thừa Dụ bái vọng. Có một giả thuyết lịch sử cho rằng, con cháu họ Khúc phải mai danh ẩn tích lấy họ khác để sống yên ổn. Mặt khác, có thông tin cho biết chính họ Bùi trong làng Cúc Bồ hiện nay là con cháu của họ Khúc.

Năm 2004, đền  thờ Khúc Thừa Dụ được xây dựng tại khu đất liền kề ngôi đình xưa. Trong đền có những bức đại tự thể hiện chí khí của Khúc Thừa Dụ như: Thiên Nam chính khí, Khai quốc thừa gia… Tuy chưa xưng vương nhưng thực chất Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, khơi dậy tinh thần đấu tranh dân tộc để mười lăm năm sau, năm 938, Ngô Quyền chấm dứt hoàn toàn ách thống  trị của phong  kiến phương Bắc. Hiện nay, đền thờ Khúc Thừa Dụ là nơi đông đảo du khách hành hương về để bày tỏ lòng biết ơn người anh hùng dân tộc.■ „

Văn Hoá Phật Giáo số 207

Có thể bạn quan tâm

84 hình ảnh minh họa Chú Đại Bi

Chú đại bi nằm trong Kinh Đại bi tâm đà la ni. Phật nói chú …

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *